Tiểu thuyết tình yêu

Tiểu Thuyết Tình Yêu

Đọc truyện tại Tiểu Thuyết Tình Yêu

Loading...

Tiểu thuyết - Đêm qua anh ở đâu? - Trang 2

Full | Lùi trang 1 | Tiếp trang 3

Chương 4

Chất caffein tác động như dự kiến, và Brooke xử lý ba ca hẹn cuối cùng của mình một cách nhanh chóng và hiệu quả. Cô vừa mới thay áo blu bằng quần jean và áo len dài tay xong thì Rebecca, một đồng nghiệp đang ở trong phòng nghỉ, báo với cô rằng sếp muốn gặp cô.

“Bây giờ á?” Brooke hỏi lại mà lo rằng buổi tối của mình sắp tan thành mây khói.

Những ngày thứ Ba và thứ Năm là bất khả xâm phạm: chỉ những ngày đó trong tuần cô mới không phải rời bệnh viện đến khu phố trên làm thêm, với cương vị một bác sĩ dinh dưỡng tư vấn cho Học viện Huntley, một trong những trường nữ sinh tư thục tốt nhất ở Khu Thượng Đông. Cha mẹ của một nữ sinh trường Huntley qua đời ở tuổi hai mươi vì chứng chán ăn trầm trọng đã thành lập một quỹ ở trường dành cho một chương trình thử nghiệm, chương trình này tài trợ cho một bác sĩ dinh dưỡng túc trực tại trường hai mươi giờ mỗi tuần để tư vấn cho các cô gái cách ăn uống lành mạnh và nhận thức về hình thể. Brooke là người thứ hai làm việc trong chương trình mới mẻ này, và mặc dù thoạt đầu cô nhận vị trí này chỉ vì đó là một phương kế phụ thêm thu nhập của cô và Julian, nhưng càng ngày cô càng thấy gắn bó hơn với các thiếu nữ ở đây. Hiển nhiên, nỗi tức giận, sự phiền phức, nỗi ám ảnh không bao giờ dứt về thức ăn có những lúc làm cô nản lòng, nhưng cô luôn cố gắng tự nhủ rằng ấy là do những bệnh nhân trẻ này không biết rõ đấy thôi. Một lợi ích nữa là công việc này cho cô việc với thanh thiếu niên nhiều hơn, thứ kinh nghiệm mà cô còn thiếu.

Vì vậy những ngày thứ Ba và thứ Năm hằng tuần cô chỉ làm việc ở bệnh viện, từ chín giờ sáng đến sáu giờ chiều. Ba ngày còn lại trong tuần lịch làm việc của cô đẩy lên sớm hơn cho phù hợp với công việc phụ: cô làm việc tại Đại học New York từ bảy giờ sáng đến ba giờ chiều và sau đó đi tàu đến bến xe buýt chạy xuyên thành phố để đến trường Huntley ở khu phố trên, nơi cô gặp các sinh viên – và thỉnh thoảng cả cha mẹ họ nữa – cho đến gần bảy giờ tối. Dù cô có cố tự bắt mình đi ngủ sớm đến thế nào, và bất chấp lượng cà phê cô uống khi thức dậy có nhiều đến mấy đi chăng nữa, thì cô vẫn triền miên cảm thấy kiệt sức. Cách sống với công việc đúp này thật oải, nhưng cô dự tính rằng cô chỉ cần một năm làm việc nữa thôi là có đủ tiêu chuẩn và kinh nghiệm để mở phòng tư vấn về dinh dưỡng trước và sau khi sinh của riêng cô, điều mà cô đã mơ ước kể từ ngày đầu tiên vào đại học và cũng chính là điều mà kể từ ngày đó cô đã phải chăm chỉ làm lụng để đạt được.

Rebecca gật đầu vẻ thông cảm. “Bà ấy hỏi chị có thể ghé qua chỗ bà ấy trước khi về không.”

Brooke nhanh chóng thu xếp vật dụng của mình rồi quay lại tầng năm.

“Margaret?” cô vừa gọi vừa gõ cửa văn phòng. “Rebecca nói là bà cần gặp tôi?”

“Vào đi, vào đi,” sếp của cô vừa nói vừa sắp xếp một số giấy tờ trên bàn làm việc. “Xin lỗi vì giữ cô lại muộn, nhưng tôi nghĩ rằng người ta luôn có thời gian dành cho những tin vui.”

Brooke thả mình xuống chiếc ghế đối diện với Margaret và chờ đợi.

“Thế này nhé, chúng tôi đã kiểm xong bản đánh giá của các bệnh nhân, và tôi rất vui mừng báo cho cô biết rằng trong tất cả các chuyên gia dinh dưỡng thì cô nhận được điểm cao nhất.”

“Tôi á?” Brooke hỏi mà hầu như không tin rằng cô trong bảy người.

“Còn chưa hết đâu.” Margaret lơ đãng quệt thỏi son dưỡng ChapStick, mim mím cặp môi, rồi quay lại nhìn chăm chăm lên giấy tờ của bà. “Chín mươi mốt phần trăm bệnh nhân đánh giá chất lượng tư vấn của cô là ‘xuất sắc’, và chín phần trăm còn lại đánh giá ‘tốt’. Ở mục tiếp theo là mục đánh giá nhân viên tốt nhất thì cô được tám mươi hai phần trăm xếp hạng ‘xuất sắc’.”

“Ôi chà,” Brooke nói, và dù nhận thấy mình phải cố gắng khiêm nhường một chút nhưng cô không làm sao ngưng được nụ cười. “Tin tuyệt quá. Tôi rất mừng được nghe tin này.”

“Thì chúng tôi cũng mừng như cô, Brooke ạ. Chúng tôi rất hài lòng, và tôi mong cô biết rằng thành tích của cô không bị làm ngơ đâu. Cô vẫn sẽ được phân ca ở phòng Điều trị Tích cực, nhưng từ tuần tới chúng tôi sẽ thay thế tất cả các ca trực tâm lý của cô bằng các ca sơ sinh. Tôi cho rằng cô thấy cách phân công như thế ổn thỏa cả đấy chứ?”

“Vâng, vâng. Tôi thấy tuyệt lắm!” Brooke trả lời.

“Như cô biết đấy, xét về thâm niên thì cô chỉ đứng thứ ba, nhưng không ai có trình độ và kinh nghiệm bằng cô cả. Tôi nghĩ phân công đó cực kỳ phù hợp với cô.”

Brooke không thể kìm được nụ cười rạng rỡ. Rốt cuộc thì một năm cao học nghiên cứu thêm về dinh dưỡng cho trẻ em, thanh thiếu niên và trẻ sơ sinh, cộng với thời kỳ làm bác sĩ thực tập đúp mà cô lựa chọn – cả hai đều thuộc nhi khoa – đã được đền đáp.

“Margaret, tôi không biết cảm ơn bà sao cho đủ vì tất cả những điều này. Đó chính là tin vui nhất từ trước đến nay.”

Sếp của cô cười lớn. “Chúc một buổi tối tốt lành. Hẹn mai gặp lại cô.”

Khi Brooke đi bộ tới ga tàu điện ngầm, cô thầm cảm ơn vừa vì được thăng tiến nửa vời vừa rồi, mà điều này còn hay hơn, cô không phải thăng tiến thực sự.

Cô xuống tàu ở bến Quảng trường Thời Đại, nhanh chóng len lỏi tìm lối giữa đám đông dưới bến tàu điện ngầm rồi thong thả nhô lên mặt đường từ cầu thang phố 43 mà cô thường đi, là lối gần nhất tới căn hộ của hai vợ chồng cô và cho phép cô tránh được cảnh chen chúc của đám đông mà cô sẽ đụng phải nếu đi theo lối phố 42. Không ngày nào mà cô không nhớ đến căn hộ cũ của họ ở Brooklyn – cô yêu hầu hết mọi thứ ở khu Brooklyn Heights và ghét hầu như tất thảy mọi thứ ở Midtown West – nhưng dù sao cô cũng phải thừa nhận rằng ở khu này hai vợ chồng đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng đỡ tệ hơn.

Cô ngạc nhiên khi Walter, con chó tam thể và đốm một bên mắt giống Tây Ban Nha, không sủa khi cô tra chìa vào ổ khóa cửa căn hộ. Nó cũng không phi đến mừng cô.

“Walter Alter! Mày đâu rồi?” Cô bập bập môi gọi và chờ đợi. Tiếng đàn vẳng ra từ chỗ nào đó trong căn hộ.

“Bọn anh đang ở trong phòng khách,” Julian trả lời. Câu trả lời của anh bị tiếng sủa ăng ẳng cuống cuồng của Walter ngắt quãng.

Brooke buông túi ngay khi vừa bước vào, đá đôi giày ra khỏi chân, và nhận thấy căn bếp sạch hơn trông thấy so với lúc cô rời khỏi đó.

“Kìa! Em không nghĩ là tối nay anh về nhà sớm,” cô nói trong lúc ngồi xuống đi văng bên cạnh Julian. Cô ghé sang để hôn anh nhưng Walter chặn lại liếm lên miệng cô trước.

“Ưm, cảm ơn Walter nhé. Tao cảm thấy mình được chào đón rất nồng nhiệt.”

Julian tắt tiếng vô tuyến rồi quay lại đối diện với cô. “Anh cũng thích liếm mặt em đấy, em biết không. Lưỡi anh hẳn là không thể cạnh tranh với lưỡi một con Tây Ban Nha được, nhưng này, anh muốn thử.” Anh cười toác, và Brooke ngạc nhiên vì thậm chí sau chừng ấy năm trời cô vẫn cảm thấy nao nao mỗi khi anh cười kiểu đó.

“Phải nói là điều đó cám dỗ đấy.” Cô tránh Walter và xoay xở để hôn lên miệng Julian bây giờ vẫn còn hơi rượu. “Lúc trước giọng anh có vẻ căng thẳng, em đã nghĩ rằng anh sẽ về nhà muộn hơn rất nhiều cơ đấy. Mọi việc ổn không anh?”

Anh đứng dậy đi vào bếp, rồi quay trở lại đưa cho Brooke ly rượu thứ hai đã rót đầy. “Mọi việc ổn cả. Chiều nay khi chúng mình cúp máy, anh nhận ra rằng có đến cả tuần nay chúng mình chưa ở bên nhau một tối nào. Anh về đây để sửa chữa khuyết điểm đó.”

“Anh á? Thật không?” Nhiều ngày nay cô cũng đã nghĩ như vậy nhưng không muốn phàn nàn khi Julian đang ở vào thời điểm then chốt trong quá trình ra đĩa.

Anh gật đầu. “Anh nhớ em, Rook à.”

Cô choàng tay qua cổ anh và hôn anh lần nữa. “Em cũng nhớ anh. Em rất mừng vì anh về nhà sớm. Anh có muốn chạy ra ngoài ăn mì không?”

Để tiết kiệm tiền, cô và Julian đã có quy ước nấu ăn ở nhà càng thường xuyên càng tốt, nhưng cả hai cũng nhất trí rằng quán cóc bán mì ở góc phố không được tính là đi ăn tiệm.

“Em có phản đối nếu mình ở nhà không? Anh đã mong chờ tối nay sẽ có một buổi tối êm đềm với em đấy.” Anh nhấp một ngụm rượu nữa.

“Được chứ, thế cũng hay. Em sẽ giao kèo với anh…”

“Ồ không, lại thế nữa rồi…”

“Em sẽ đổ mồ hôi sôi nước mắt bên bếp nóng để nấu cho anh một bữa ngon lành bổ dưỡng nếu anh đồng ý xoa bóp chân và lưng cho em ba mươi phút.”

“ ‘Đổ mổ hôi sôi nước mắt bên bếp nóng’ á? Em có thể làm món gà xào trong hai phút. Giao kèo này thật chả công bằng gì sất.”

Brooke nhún vai. “Được thôi. Có ngũ cốc trong chạn ấy, nhưng hình như nhà mình hết sữa rồi. Lúc nào anh cũng có thể tự làm ít bỏng ngô cho anh được mà.”

Julian quay về phía Walter và nói, “Mày không biết mày sướng đến mức nào đâu, cậu nhỏ ạ. Cô ấy không bắt mày phải làm việc để đổi lấy thức ăn.”

“Giá đã tăng lên ba mươi phút rồi đấy nhé.”

“Thì đã nói là ba mươi phút rồi còn gì,” Julian rên rẩm.

“Lúc trước tổng cộng là ba mươi phút. Còn bây giờ là ba mươi phút làm chân và ba mươi phút nữa làm lưng.”

Julian giả bộ cân nhắc điều này. “Bốn mươi lăm phút thì anh sẽ…”

“Cứ cố kỳ kèo là chỉ làm tăng thêm tổng lượng thời gian đấy nhé.”

Anh giơ cả hai bàn tay lên. “Anh e là chả có giao kèo gì hết.

“Thật không?” cô hỏi. “Anh sẽ tự mình lo liệu bữa tối nay chăng?” cô vừa hỏi tiếp vừa cười tươi hơn hớn. Julian là một đối tác bình đẳng trong việc dọn dẹp lau chùi, trả tiền các hóa đơn và chăm sóc con chó, nhưng trong bếp thì anh vô dụng và anh cũng biết thế.

“Thực ra thì anh đang tự đây. Anh sẽ lo liệu cho cả hai chúng ta, thật đấy. Tối nay anh đã nấu bữa tối cho em rồi.”

“Anh đã cái gì?”

“Em nghe thấy anh nói rồi đấy.” Đâu đó trong bếp tiếng thiết bị hẹn giờ bắt đầu kêu bíp bíp. “Và bữa tối đã sẵn sàng trong lúc chúng mình mải nói chuyện. Mời quý khách ngồi,” anh nhái giọng Anh quốc đúng điệu.

“Em ngồi rồi đây,” cô vừa nói vừa ngả người trên đi văng và gác chân lên bàn nước.

“À, phải rồi,” Julian hồ hởi nói vọng ra từ căn bếp mini của họ. “Anh thấy là em đã tìm được đường đến phòng ăn trang trọng rồi. Chuẩn đấy!”

“Em có giúp gì được không?”

Tay đeo đôi găng dùng để lấy thức ăn từ lò nóng, Julian trở lại bê theo món ăn đựng trong chiếc đĩa thủy tinh chịu nhiệt. “Món ziti nướng [2] cho người anh yêu…” Anh đang định đặt chiếc đĩa nóng thẳng xuống mặt bàn gỗ trần thì Brooke la toáng và nhảy bổ lên đi lấy cái lót nồi. Julian bắt đầu dùng thìa xúc món pasta đang bốc hơi ra dĩa.

(2) Ziti nướng: món mì ziti (một loại mì ống pasta dạng xoắn thừng) luộc, trộn thịt bò, hành và nước xốt spaghetti, phủ bơ, pho mát, kem sữa… rồi bỏ lướng.

Brooke chỉ có thể dán mắt nhìn. “Có phải đây là cách để anh nói với em rằng anh vẫn đang ngoại tình với một cô khác suốt từ khi chúng mình cưới đến giờ và anh muốn được em tha thứ không?” cô hỏi.

Julian cười toét miệng. “Đừng nói nữa mà ăn đi.”

Cô ngồi xuống tự lấy cho mình một ít xa lát trong lúc Julian xúc món ziti vào đĩa của cô. “Anh yêu ơi, món này trông ngon tuyệt. Anh học nấu ở đâu vậy? Và tại sao tối tối anh lại không nấu món này?”

Anh nhìn cô với nụ cười bẽn lẽn. “Có lẽ hôm nay anh đã mua món ziti này ở hiệu và chỉ cho vào lò làm nóng lên thôi. Khả năng đó là hoàn toàn có thể. Nhưng món này được mua và hâm nóng bằng tình yêu.”

Brooke nâng ly rượu của mình lên và chờ Julian cụng ly. “Tuyệt vời,” cô nói thật lòng. “Tuyệt không thể tưởng được, trên cả tuyệt vời.”

Trong lúc họ ăn, Brooke kể với anh chuyện Randy và Michelle, và cô mừng khi thấy anh vui đến thế, thậm chí đến mức đề xuất rằng họ sẽ lái xe đến Pennsylvania trông hộ đứa cháu chưa biết là trai hay gái đó. Julian cập nhật thông tin cho cô về kế hoạch của hãng Sony lúc này khi đĩa nhạc đã sắp hoàn thành và nói với cô về người quản lý mới mà anh đã thuê theo lời giới thiệu từ người đại diện của anh.

“Có vẻ gã là người giỏi nhất trong số những người giỏi. Gã có tiếng là hơi quá xông xáo, nhưng anh nghĩ đó chính là tố chất mà ta muốn ở một người quản lý.”

“Thế lúc phỏng vấn thì anh thấy anh ta thế nào?”

Julian ngẫm nghĩ về điều này. “Anh không chắc dùng từ ‘phỏng vấn’ là chính xác. Phải nói là gã trình bày tổng thể kế hoạch của gã cho anh thì đúng hơn. Gã nói rằng lúc này chúng ta đang ở bước ngoặt quan trọng, và rằng giờ là lúc bắt đầu ‘lên kế hoạch hành động để đạt kết quả cao nhất’.”

“Chà, em nóng lòng muốn gặp anh ta quá,” Brooke nói.

“Ừ, chắc thái độ của gã hơi có vẻ mẹ mìn theo kiểu Hollywood – em biết đấy, nơi mà ta cảm thấy như ai ai cũng lươn lẹo để làm lợi cho mình – nhưng anh thích sự tự tin của gã.”

Julian dốc nốt rượu trong chai ra đều hai ly rồi ngồi lại vào ghế của anh. “Mọi việc ở bệnh viện thế nào? Ngày hôm nay có căng lắm không?”

“Khá căng, nhưng anh đoán được không? Qua đánh giá của bệnh nhân về toàn bộ nhân viên thì em được xếp hạng cao nhất đấy, và họ sẽ phân thêm cho em một số ca bệnh nhi nữa.” Cô nhấp thêm hớp rượu nữa từ ly của mình; cũng đáng để trả giá bằng cơn đau đầu vào buổi sáng ngày mai.

Julian cười tươi hơn hớn. “Tin này hay tuyệt, Rook à. Chả bất ngờ tí nào nhưng thật tuyệt. Anh rất tự hào về em.” Anh nhoài người qua bàn hôn cô.

Brooke rửa bát, sau đó ngâm mình trong bồn tắm trong lúc Julian làm nốt một vài việc trên trang web mới mà anh thiết kế cho riêng mình, rồi họ trở lại đi văng với nhau, cả hai đều vận quần pyjama vải flannel và áo phông. Julian đắp chiếc khăn phủ lên chân cả hai rồi chộp lấy điều khiển.

“Phim nhé?” anh hỏi.

Cô liếc nhìn đồng hồ trên đầu thu kỹ thuật số: mười giờ mười lăm. “Em nghĩ là bây giờ quá muộn để bắt đầu xem trọn một bộ phim, hay xem Grey’s[3]?”

[3] Grey’s Anatomy: một bộ phim truyền hình dài tập về ngành y.

Anh nhìn cô với vẻ mặt kinh hãi. “Không đùa đấy chứ? Em có thể bắt anh xem cái đó sau khi anh đã nấu bữa tối phục vụ em mà không thấy lương tâm cắn rứt ư?”

Cô mỉm cười và lắc đầu. “Em không chắc nấu là từ không gian lận đâu nhé, nhưng anh nói phải đấy. Tối nay quyền lựa chọn là của anh.”

Julian lướt qua danh sách trên đầu thu kỹ thuật số rồi bấm vào một tập phim hình sự truyền hình mới ra. “Lại đây em, anh sẽ xoa bóp chân cho em trong khi chúng mình xem phim.”

Brooke lật người sang để có thể đặt chân lên lòng anh. Cô suýt rên lên vì khoan khoái. Trên màn hình, các thanh tra đang khám nghiệm một xác chết bị chặt khúc được phỏng đoán là của một gái điếm nằm trong một bãi rác ở ngoại ô Vegas, và Julian xem chăm chú. Cô không thích loại phim án mạng kiểu bí hiểm với máy móc kỹ thuật cao như Julian – anh có thể xem họ tìm ra những kẻ sát nhân bằng các kỹ thuật quét, lade và lần theo dấu vết kiểu đó suốt đêm – nhưng tối nay thì cô không phản đối. Cô hạnh phúc khi ngồi lặng lẽ bên chồng và đắm mình vào cái cảm giác tuyệt vời khi anh xoa bóp chân cô.

“Em yêu anh,” cô nói trong lúc ngả đầu vào tay ghế và nhắm mắt lại.

“Anh cũng yêu em, Brooke ạ. Giờ thì yên lặng cho anh xem phim nào.”

Nhưng cô đã trôi vào giấc ngủ.

* * *

Cô chỉ vừa mới mặc xong quần áo thì Julian bước vào phòng ngủ của họ. Mặc dù hôm đó là Chủ nhật nhưng trông anh có vẻ bồn chồn.

“Chúng mình phải đi ngay không thì muộn mất,” anh vừa nói vừa chộp lấy đôi giày đế mềm từ trong tủ quần áo chung của họ. “Em biết là mẹ anh thích sự chậm trễ đến mức nào rồi đấy.

“Em biết mà, em sắp xong rồi đây,” cô nói, cố lờ đi sự thật là cô vẫn đang toát mồ hôi vì chạy thể dục ba dặm suốt một tiếng đồng hồ trước đó. Brooke nối bước Julian ra khỏi phòng ngủ, đón lấy chiếc áo khoác dạ mà anh đưa cho cô, và theo anh xuống dưới đường.

“Anh vẫn chẳng hiểu tại sao bố em và Cynthia đến thành phố hôm nay,” Julian nói trong lúc họ đi như chạy từ nhà đến ga tàu điện ngầm Quảng trường Thời Đại.

“Hôm nay là kỷ niệm ngày cưới của họ mà,” Brooke nhún vai đáp. Sáng mùa đông mà thế này thì thật là lạnh khác thường, và cô thèm đến chết một cốc trà nóng từ tiệm tạp phẩm Tây Ban Nha góc phố, nhưng họ chẳng còn dư lấy một giây.

“Và thế là họ quyết định đến đây à? Vào một ngày tháng Ba giá buốt như thế này ư?”

Brooke thở dài. “Em cho rằng còn thú vị hơn ở Philly.[4] Hình như Cynthia chưa bao giờ xem phim Vua sư tử và bố em nghĩ rằng đó là một cái cớ hay để đến thăm chúng mình. Em mừng vì anh sẽ có cơ hội báo tin trực tiếp cho họ…”

[4] Philly: thành phố Philadelphia, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ.

Cô liếc nhìn Julian và thấy anh cười, chỉ hơi tủm tỉm. Anhnên tự hào về bản thân, cô tự nhủ. Anh vừa mới nhận được một trong những tin vui nhất về sự nghiệp của mình, và anh xứng đáng với điều đó.

“Ừ, phải đấy, anh nghĩ mình có thể yên tâm mà nói rằng bố mẹ anh sẽ không được háo hức nhiệt tình cho lắm, nhưng em thì có lẽ sẽ hiểu,” anh nói.

“Bố em đã kể với tất cả những ai muốn nghe rằng anh có tài sáng tác bài hát như Bob Dylan và có giọng hát có thể làm họ phát khóc,” cô cười lớn. “Bố sẽ sướng rơn, chắc chắn đấy.”

Julian siết tay cô. Có thể cảm nhận rõ ràng sự phấn khích của anh.

Brooke nở một nụ cười yếu ớt khi họ chuyển sang tàu số 6.

“Em sao thế?” Julian hỏi.

“À, không sao đâu anh. Em hân hoan quá đỗi vì anh sẽ báo tin vui cho họ. Có điều em hơi hoảng vì phải đối phó với sự bất tiện khi bố mẹ cả hai bên cùng ngồi trong một phòng thôi.”

“Em nghĩ điều này sẽ tệ đến thế thật à? Cứ làm như là trước đây họ chưa từng gặp nhau bao giờ ấy.”

Brooke thở dài. “Em biết thế, nhưng họ mới chỉ gặp nhau ở chỗ đông người: ngày cưới của chúng mình này, những ngày nghỉ lễ nữa. Chưa bao giờ gặp riêng nhau thế này cả. Bố em thì chỉ muốn nói chuyện về mùa biểu diễn tới ban nhạc Eagles sẽ làm ăn ra sao mà thôi. Cynthia thì háo hức đi xem Vua sư tử, trời đất, và nghĩ rằng chuyến thăm thú thành phố này sẽ không đời nào trọn vẹn nếu không ăn trưa ở Phòng Trà Nga. Rồi còn bố mẹ anh nữa chứ: họ là những người New York gốc khắc nghiệt và dễ sợ nhất mà em từng gặp, những người tin chắc rằng NFL [5] là một tổ chức phi lợi nhuận của Pháp, những người mà từ những năm sáu mươi đến giờ chưa đi xem ca nhạc, và là những người sẽ không ăn bất kỳ món gì nếu món đó không do đầu bếp nổi tiếng nấu. Anh hãy nói em nghe: thế các bậc phụ huynh sẽ nói chuyện gì với nhau đây?>

[5] NFL (viết tắt của The National Football League): Liên đoàn Bóng Bầu dục Quốc gia của Mỹ.

Julian bóp nhẹ nơi gáy cô. “Đó chỉ là một bữa ăn nhẹ thôi mà, em yêu. Một chút cà phê, vài chiếc bánh vòng, rồi chúng mình thoát ngay. Anh chắc rằng mọi việc sẽ đâu vào đấy cả thôi.”

“Ừ, phải rồi, trong lúc bố em và Cynthia ba hoa không ngớt miệng theo cái kiểu hớn hở phấn khích không kìm được của họ thì bố mẹ anh ngồi ngây ra như tượng mà ngấm ngầm phán xét họ ư? Nghe có vẻ như một sáng Chủ nhật tươi hồng đấy nhỉ.”

“Cynthia có thể nói chuyện gẫu về nghề nghiệp với bố mẹ anh được đấy chứ,” Julian ngoan ngoãn gợi ý. Nhưng vẻ mặt anh như muốn nói, Anh còn chẳng tin được điều đó nữa là, và Brooke bật cười.

“Hãy bảo em là anh không định nói thế đi!” cô vừa nói vừa cười dữ hơn đến chảy cả nước mắt. Họ ngoi lên ở góc giao giữa phố 72 và đại lộ Lexington rồi bắt đầu đi bộ tới đại lộ Công Viên.

“Ờ thì, thật thế mà.”

“Anh đáng yêu quá đấy, anh biết không?” Brooke vừa hỏi vừa ngả sang hôn lên má anh. “Cynthia là y tá ở trường trung học. Dì ấy phòng ngừa bệnh viêm họng do liên cầu khuẩn và phát thuốc giảm đau Motrin trị chuột rút. Dì ấy chẳng biết tí gì về việc Botox hoặc Restylane có được chỉ định để đặc trị vết nhăn sâu khi cười hay không. Em không dám chắc kinh nghiệm nghề nghiệp của họ có điểm gì chung.”

Julian giả bộ phật ý. “Hình như em quên mất rằng mẹ cũng được liệt vào hàng các bác sĩ chuyên cắt tĩnh mạch dãn giỏi nhất nước,” anh nhe răng cười. “Em biết điều đó đáng nể đến mức nào đấy.

“Vâng, tất nhiên rồi. Đáng nể lắm chứ.”

“Thôi được, anh hiểu ý em rồi. Nhưng bố anh có thể nói chuyện với bất kỳ ai. Em biết tính ông dễ chịu thế nào rồi đấy. Ông sẽ làm Cynthia quý ông cho mà xem.”

“Ông là người rất thú vị.” Brooke nhất trí. Cô nắm lấy tay anh khi họ đến gần tòa nhà của gia đình Alter. “Nhưng ông ấy là một chuyên gia làm nở ngực nổi tiếng thế giới. Cũng là tự nhiên khi một người phụ nữ cho rằng ông đang săm soi cỡ ngực mình và cho rằng bộ ngực ấy quá nhỏ.”

“Brooke, thật vớ vẩn. Thế em cho rằng tất cả các bác sĩ nha khoa em gặp ở những chỗ giao tế đều nhìn chằm chằm vào răng lợi em ư?”

“Đúng thế.”

“Và tất cả các bác sĩ tâm lý em gặp trong một bữa tiệc đều phân tích tâm lý em?”

“Hiển nhiên rồi, trăm phần trăm luôn. Còn nghi ngờ gì nữa.”

“Thế thì lố bịch quá.”

“Cha anh khám, xử lý và đánh giá ngực phụ nữ tám giờ đồng hồ mỗi ngày. Em không cho rằng ông là người đồi trụy, nhưng bản năng của ông là săm soi người ta. Phụ nữ có thể cảm thấy thế, đó là những gì em muốn nói.”

“Chà, vấn đề này làm nảy sinh câu hỏi hiển nhiên đấy.”

“Thế á?” cô vừa hỏi vừa nhìn đồng hồ của mình khi mái hiên nhà hiện ra trước mắt họ

“Em có cảm giác như ông đang săm soi ngực em khi ông nhìn em à?” Julian tội nghiệp có vẻ bị ức chế khi đề cập đến điều ấy đến nỗi Brooke những muốn ôm lấy anh.

Chương 5

“Không, anh yêu, tất nhiên là không rồi,” cô thì thầm trong lúc tựa sát vào và ghì chặt tay anh. “Chí ít là đến nay thì chưa. Ông biết người biết ta, và ông biết rằng ông sẽ không bao giờ chạm tay vào ngực em, và em nghĩ rằng rốt cuộc ông đã thôi quan tâm đến điều đó.”

“Ngực em hoàn hảo, Brooke. Hoàn hảo tuyệt đối,” Julian thốt lên mà không nghĩ ngợi gì.

“Em biết. Chính vì thế mà cha anh đã đề xuất làm lại chúng với giá gốc khi chúng mình đính hôn ấy.”

“Ông đề xuất cho cộng sựcủa ông làm, và không phải vì ông nghĩ em cần cái đó…”

“Hờ, thế thì vì anh nghĩ em cần cái đó ư?” Brooke biết rằng hoàn toàn không phải vì thế – họ đã nói đến điều đó cả trăm lần và cô hiểu rằng bác sĩ Alter chỉ đơn thuần chào mời dịch vụ của ông như một người thợ may chào mời một bộ trang phục may đo giá ưu đãi mà thôi – nhưng toàn bộ câu chuyện này vẫn làm cô bức xúc.

“Brooke…”

“Xin lỗi. Chỉ vì em đói quá mà. Vừa đói lại vừa lo.”

“Việc đó chẳng quá tệ như em tiên liệu đâu.”

Người gác cổng đập tay và vỗ lưng Julian để chào anh. Tận đến khi anh ta đưa họ vào thang máy và họ bắt đầu vọt lên tầng tám thì Brooke mới nhận ra rằng cô không mang gì đến đây c

“Chắc mình phải chạy ngược ra mua bánh trái hoặc hoa hoét gì đó anh ạ,” Brooke vừa nói vừa khẩn thiết giật tay Julian.

“Thôi nào, Rook, chẳng thành vấn đề đâu. Họ là bố mẹanh. Thực ra bố mẹ chẳng để ý đâu.”

“Ớ ờ. Nếu anh tin là mẹ anh không để ý những lần chúng mình đến tay không thì anh thật là hoang tưởng.”

“Chúng mình mang thân đến rồi còn gì. Đó là vấn đề chính yếu.”

“Được thôi. Anh cứ đi mà tự nhủ như thế nhé.”

Julian gõ cửa và cánh cửa mở ra. Tươi cười chào đón họ ở lối vào là Carmen, người vú em kiêm quản gia của gia đình Alter từ ba mươi năm nay. Trong một lần đầu gối tay ấp khi hai người yêu nhau chưa lâu, Julian thú nhận với Brooke rằng anh gọi Carmen là “Mẹ” tận đến lúc lên năm tuổi vì anh chẳng biết gọi bằng từ gì hơn. Carmen lập tức ôm lấy Julian.

“Con của vú khỏe không?” bà hỏi anh sau khi nhoẻn cười với Brooke và hôn lên má cô. “Vợ con có cho con ăn no không?”

Brooke siết chặt tay Carmen, ngạc nhiên tự hỏi hàng ngàn lần rằng sao Carmen lại không thể là mẹ của Julian, và nói, “Carmen, trông anh ấy có vẻ gì là chết đói không ạ? Có tối cháu còn phải giật nĩa khỏi tay anh ấy đấy.”

“Thế mới là cậu bé của tôi chứ,” bà nói và tự hào nhìn anh.

Một giọng nói lảnh lót vọng từ phòng khách chính ra hành lang. “Carmen yêu quý, hãy để bọn trẻ vào đây đi. Và đừng quên cắt cuống trước khi cắm hoa vào bình đầy. Chiếc bình Michael Aram ] mới ấy nhé.”

[6] Michael Aram: một nghệ sĩ gốc Mỹ nổi tiếng hiện đang sống và làm việc tại New Delhi, Ấn Độ. Ông tạo hình các tác phẩm nghệ thuật bằng kim loại theo phương pháp thủ công truyền thống của Ấn Độ. Các đồ tạo tác của ông từ những bộ đồ ăn đến các vật dụng đồ đạc trong nhà được trưng bày và bán tại các gallery và các cửa hàng chuyên biệt trên khắp thế giới.

Carmen nhìn quanh xem có hoa không nhưng Brooke chỉ chìa hai bàn tay trắng ra. Cô quay qua Julian và trao cho anh một cái nhìn đầy ngụ ý.

“Đừng có nói điều đó đấy,” Julian lẩm bẩm.

“Được thôi. Vì yêu anh nên em sẽ không nói rằng em đã bảo anh thế mà.”

Julian dẫn cô vào phòng khách chính – Brooke những mong rằng tất cả bọn họ sẽ bỏ qua phòng khách và đi thẳng vào phần ăn uống – và trông thấy cả hai cặp phụ huynh đang ngồi đối diện nhau trên những chiếc đi văng thấp giống hệt nhau kiểu cách rất thời trang.

“Brooke, Julian.” Mẹ anh mỉm cười nhưng không đứng lên. “Chúng ta rất mừng vì các con đã đến được với chúng ta.”

Brooke lập tức suy luận rằng câu nói đó là sự công kích vào việc họ đến trễ. “Rất xin lỗi vì chúng con trễ giờ, mẹ Elizabeth. Tàu điện ngầm rất…”

“Được rồi, chí ít thì các con cũng đã đến,” bác sĩ Alter nói, hai tay ông khum khum kiểu cách quanh ly nước cam đầy, y hệt cái cách mà cô tưởng tượng ông nâng niu những bộ ngực mà ông khám vậy.

“Kìa Brookie! Julian! Có gì mới không, các con?” Cha của Brooke đứng phắt lên ôm lấy cả đôi trong vòng ôm rộng. Rõ ràng là ông đang cư xử hơi cường điệu để cứu vãn tình thế cho gia đình Alter, nhưng thực lòng Brooke không thể trách ông được

“Chào bố,” cô vừa nói vừa ôm ông. Rồi cô đi về phía Cynthia, chị ta đang bị kẹt trên đi văng giữa bọn họ, và trao cho chị một cái ôm lóng ngóng nửa đứng nửa ngồi. “Chào dì Cynthia. Rất vui được gặp dì.”

“Ôi, dì cũng vậy, Brooke ạ. Chúng ta rất háo hức đến đây! Cha con và dì đang nói dở câu chuyện rằng khó mà nhớ được lần cuối cùng chúng ta đến New York là từ bao giờ.”

Đến tận lúc đó Brooke mới nhìn rõ diện mạo Cynthia. Chị mặc bộ vest đỏ rực như xe cứu hỏa, chắc hẳn bằng chất liệu polyester, với áo kiểu màu trắng và đôi giày da đế bệt màu đen, một chuỗi hạt ngọc trai giả ba sợi quấn quanh cổ chị, và trên đỉnh của tổng thể bộ cánh đó là kiểu đầu bới cao xoăn tít xịt keo. Trông chị như thể đang truyền tải hình ảnh của Hillary Clinton tại lễ đọc diễn văn trước Quốc hội của tổng thống, quyết tâm nổi bật giữa biển người mặc com lê tối màu. Brooke biết rằng chị chỉ cố gắng cho hợp với quan niệm của chị về cách ăn mặc của một phụ nữ Manhattan khá giả, nhưng toan tính của chị hỏng bét, đặc biệt là giữa những người lịch lãm nhà Alter, trong căn hộ đậm chất Á Đông này. Mẹ của Julian – dù hơn Cynthia đến hai mươi tuổi – trong chiếc quần jean màu sẫm bó khít và tấm khăn cashmere nhẹ như lông hồng choàng qua áo thụng chất co dãn không tay trông như trẻ hơn chị cả chục tuổi. Bà đi một đôi giày bệt kiểu ba lê thanh lịch với logo Chanel kín đáo và trang sức đi kèm chỉ gồm một lắc tay vàng và một chiếc nhẫn kim cương lớn. Làn da rám nắng của bà rạng rỡ với lớp trang điểm nhẹ nhàng, và tóc bà xõa xuống đến ngang lưng. Brooke lập tức cảm thấy mình có lỗi: cô biết chắc hẳn Cynthia phải cảm thấy bị đe dọa đến mức nào – xét cho cùng thì Brooke cũng luôn có cảm giác hệt như vậy mỗi khi có mặt mẹ chồng cô – nhưng cô còn bẽ mặt nữa vì cô đã đánh giá tình thế quá thấp. Thậm chí cả cha cô cũng có vẻ lúng túng khi nhận thấy chiếc quần kaki và cà vạt của ông lạc lõng bên cạnh chiếc áo polo ngắn tay của ông Alter.

“Julian, con yêu, mẹ biết là con muốn một ly cocktail Bloody. Brooke, con có thích một ly mimosa không?” Elizabeth Alter hỏi. Đó là một câu hỏi thông thường nhưng, giống như hầu hết những câu người phụ nữ này thường hỏi, nó gợi lên cảm giác như cài bẫy.

“Nói thật là con thích một ly Bloody Mary ạ.”

“Chắc thế rồi.” Bà mẹ của Julian mím môi lại tỏ vẻ chê bai ra mặt. Cho đến tận giờ, Brooke vẫn không chắc rằng mẹ chồng cô ghét cô vì những lý do có liên quan tới Julian và việc Brooke khuyến khích tham vọng âm nhạc của anh, hay vì bà ta thấy cô là kẻ rất chướng tai gai mắt.

Họ không còn lựa chọn nào khác ngoài cách ngồi vào hai chiếc ghế còn trống – cả hai đều có lưng tựa thẳng đứng bằng gỗ và không êm ái chút nào – hai chiếc ghế này đặt đối diện nhau nhưng bị lèn vào giữa hai chiếc đi văng. Cảm thấy khó xử và bất lực, Brooke cố nhanh nhảu khơi chuyện.

“Dạ, vài tuần qua bố mẹ thế nào ạ?” cô hỏi ông bà Alter và cười với Carmen khi đón ly Bloody Mary cao, đặc sền sệt được điểm bằng một lát chanh và nhánh cần tây trên miệng. Cô cố nén để không uống một hơi cạn hết ly. “Vẫn bận như mọi khi phải không ạ?”

“Ờ, tôi không thể tưởng tượng làm sao mà hai ông bà có thể duy trì lịch làm việc kiểu đó được!” Cynthia tiếp lời, có phần hơi lớn tiếng. “Brooke đã kể với tôi rằng có biết bao nhiêu, ờ, hoạt động mà ông bà phải tiến hành mỗi ngày, và như thế, đủ để làm bất kỳ ai kiệt sức. Tôi ấy à, chỉ cần một đợt viêm họng bùng phát là tôi quỵ ngay, nhưng hai ông bà kìa! Trời ạ, hẳn phải phát rồ lên mất.”

Elizabeth Alter nở nụ cười tươi và rất mực hạ cố. “Vâng, thì chúng tôi xoay xở để luôn bận rộn mà. Nhưng chuyện này chán ngắt phải không! Tôi muốn nghe xem bọn trẻ sống ra sao kia. Brooke? Julian?”

Cynthia thụt vào ghế ngồi, xẹp như con gián và bẽ bàng. Người phụ nữ tội nghiệp đó đang đi qua bãi mìn mà chị không thể tự mình tìm đường xuyên qua được. Chị vô thức đưa tay lau trán và đột nhiên có vẻ rất mệt mỏi. “Vâng, phải rồi. Hai cô cậu dạo này thế nào?”

Brooke biết rằng đừng để lộ bất kỳ chi tiết nào về công việc của cô thì hơn. Mặc dù mẹ chồng cô chính là người giới thiệu cho Brooke vào phỏng vấn ở trường Huntley nhưng bà chỉ làm thế sau khi đã phải cam lòng chấp nhận rằng Brooke không hề cân nhắc việc công tác trong các tạp chí, ng trang, các nhà đấu giá, hoặc quan hệ công chúng. Nếu chỉ đơn giản là Brooke phải dùng cái bằng cao học chuyên ngành dinh dưỡng đó thì bà không thể hiểu được tại sao chí ít cô không làm một nhà tư vấn cho tạp chí Vogue hoặc làm nhà tư vấn riêng cho số đông bè bạn của bà ở Khu Thượng Đông; bất kỳ cái gì, thực thế, cũng còn ít nhiều danh giá hơn, như bà nói, “một phòng cấp cứu dơ dáy với những kẻ vô gia cư và say xin.”

Julian quá hiểu chuyện nên đã xen vào cứu nguy cho cô. “À, thực ra thì con có một thông báo nho nhỏ,” anh vừa nói vừa húng hắng.

Dù Brooke mừng cho Julian đến mức không kìm lòng nổi nhưng bỗng nhiên một nỗi kinh hoàng dấy lên trong cô. Cô thấy mình đang cầu trời để anh đừng có kể với họ về buổi biểu diễn ra mắt đó, vì chắc chắn anh sẽ thất vọng với phản ứng của họ và cô ghét phải thấy anh trải qua điều đó. Không ai có thể làm cô bộc lộ bản năng che chở như cha mẹ Julian cả; chỉ nghĩ về những điều họ có thể nói ra thôi cũng làm cho Brooke muốn giấu anh đi và kéo anh về thẳng nhà, nơi anh được che chở khỏi sự xấu tính của họ, và tệ hơn nữa là sự thờ ơ của họ.

Mọi người chờ một chút để Carmen bưng một bình nước nho ép mới đến rồi quay lại chăm chú vào Julian.

“Con, ờ, vừa mới nghe tin từ Leo, người quản lý mới của con, rằng hãng Sony muốn giới thiệu con ra mắt khán giả trong tuần này. Chính xác là ngày thứ Năm.”

Có một khoảng lặng khi tất cả mọi người chờ đợi ai đó nói trước, rồi cha của Brooke là người đầu tiên lên tiếng. “Ôi, có lẽ cha chẳng biết chính xác biểu diễn ra mắt là thế nào, nhưng nghe có vẻ như là tin vui. Chúc mừng con, con trai!” ông vừa nói vừa nghiêng qua Cynthia để vỗ vào lưng Julian.

Bác sĩ Alter, dường như bực tức vì từ “con trai”, cau có nhìn vào tách cà phê của mình rồi quay sang Julian. “Sao con không giải thích xem điều đó có nghĩa gì cho những kẻ ngoại đạo chúng ta được biết?” ông hỏi.

“Phải rồi, điều đó có nghĩa là rốt cuộc cũng có ai đó nghe nhạc của con phải không?” bà mẹ Julian vừa hỏi vừa co chân vào kiểu cách hệt như một cô gái trẻ và mỉm cười với con trai mình. Mọi người ý tứ phớt lờ cái cách bà nhấn mạnh vào từ “rốt cuộc” – tất cả mọi người trừ Julian, mặt anh in hằn nét tổn thương, và Brooke, người chứng kiến điều đó.

Sau chừng ấy năm chắc chắn Brooke đã quen nghe cha mẹ Julian nói những điều tồi tệ, nhưng cô không vì thế mà bớt căm ghét họ. Khi cô và Julian mới hẹn hò, anh đã dần dần thổ lộ rằng cha mẹ anh rất chê trách anh và cách sống mà anh lựa chọn. Trong lễ đính hôn của hai người, cô bắt gặp vẻ bất bình của họ đối với chiếc nhẫn đính hôn bằng vàng trơn mà Julian khăng khăng một mực tặng cô thay vì một trong những “của báu gia truyền của dòng họ Alter” mà mẹ anh đã ép. Thậm chí khi Brooke và Julian nhân nhượng tổ chức hôn lễ tại dinh thự gia đình Alter ở Hamptons, cha mẹ anh đã phát hoảng khi cặp uyên ương cả quyết rằng lễ cưới sẽ không lớn, không ồn ào và không mời đông khách. Sau khi họ cưới và trong những năm tiếp theo, khi những người nhà Alter cư xử tự nhiên hơn trước mặt cô, vào vô số những bữa tối, bữa nhẹ và những kỳ nghỉ, cô thấy họ mới cay độc làm sao.

“À, về cơ bản thì điều đó có nghĩa là họ nhận thấy album sắp hoàn thành và ở chừng mực nào đó thì họ thực sự thích album của con. Họ sẽ thu xếp một buổi ra mắt những người trong ngành, đại loại là giới thiệu con với những người đó trong một buổi biểu diễn cá nhân, và rồi họ sẽ đánh giá phản ứng.” Julian, người thường vẫn quá khiêm tốn đến mức thậm chí không muốn nói với Brooke khi anh có một ngày thành công ở phòng thu, lúc này không thể kìm được nụ cười tự hào tươi rói. Cô những muốn hôn anh ngay tại trận.

“Có lẽ tôi chẳng hiểu gì mấy về ngành âm nhạc, nhưng nghe có vẻ là cả một sự tán thưởng và khích lệ lớn lao từ phía họ,” cha Brooke nói và nâng cao chiếc ly.

Julian không giấu được nụ cười. “Đúng thế ạ,” anh vừa nói vừa cười toác. “Chắc chắn đó là viễn cảnh hay nhất lúc này. Và con hy vọng…”

Anh dừng lại vì chuông điện thoại bắt đầu reo và mẹ anh ngay lập tức bắt đầu nhìn quanh tìm máy con cầm tay. “Ồ, cái điện thoại phải gió đâu rồi nhỉ? Chắc hẳn là L’Olivier(7) gọi điện xác nhận thời gian cho ngày mai. Con ơi, hãy dừng chút xíu. Nếu không đặt ngay thì mẹ sẽ không có hoa cho bữa tiệc tối mai mất.” Nói xong, bà đứng lên khỏi đi văng và biến vào trong bếp.

(7) L’Olivier: hãng hoa tươi nổi tiếng ở New York.

“Các con cũng biết mẹ các con với đám hoa hoét của bà ấy rồi đây,” bác sĩ Alter nói. Ông nhấp cà phê, chẳng hiểu ông có nghe thấy thông báo của Julian hay không nữa. “Tối mai chúng ta mời nhà Bennet và nhà Kamen đến ăn tối, thành thử bà ấy đang rối lên với việc chuẩn bị. Chúa ơi, mọi người sẽ tưởng quyết định chọn món nhồi hay món om là vấn đề an ninh quốc gia cơ đấy. Lại còn hoa nữa chứ! Chắc bà ấy đã mất đứt nửa buổi chiều cuối tuần trước với cái đám hoa fegela đó, mà đến giờ bà ấy vẫn còn lăn tăn. Tôi đã nói với bà ấy cả ngàn lần rằng: ai buồn quan tâm đến hoa với hoét kia chứ; chẳng ai nhận thấy nữa ấy. Ngày nay ai cũng vung tiền vào những đám cưới hoang phí và chi hàng chục ngàn đô la vào những núi phong lan hoặc cái khỉ gió gì đang mốt, mà nào có ai liếc nhìn đến những của nợ ấy bao giờ? Thật là đại lãng phí, nếu mọi người muốn biết ý kiến của tôi. Tiêu tiền vào rượu ngon nhắm tốt – đó mới là cái mà người ta hưởng thụ thực sự chứ.” Ông nhấp một ngụm nữa, nhướng mắt nhìn quanh phòng. “Nào, chúng ta đang nói về cái gì nhỉ?”

Cynthia tế nhị xen vào làm dịu bớt giây phút căng thẳng. “Ôi, đó chính là một trong những tin hay nhất mà bao nhiêu lâu nay chúng ta mới được nghe phải không nào!” Chị nói với lòng nhiệt tình hơi thái quá. Cha Brooke hăng hái gật đầu. “Chính xác thì buổi biểu diễn ra mắt sẽ được tổ chức ở đâu nhỉ? Bao nhiêu người được mời? Cậu đã quyết định sẽ biểu diễn bài gì chưa?” Cynthia giội những câu hỏi như mưa xuống đầu anh và chỉ duy có lần này là Brooke không cảm thấy khó chịu với sự cật vấn đó. Đó chính là những câu hỏi mà cha mẹ Julian nên đặt ra nhưng họ sẽ không bao giờ hỏi, và Julian rành là rất khoái khi nhận được sự quan tâm như vậy.

“Buổi biểu diễn sẽ được tổ chức ở một thính phòng nhỏ thân mật trong trung tâm thành phố, và đại diện của con nói rằng họ đang mời khoảng năm mươi người trong ngành – những người ký hợp đồng biểu diễn với bên truyền hình và phát thanh, những người điều hành trong lĩnh vực âm nhạc, một số người từ M, đại loại là thế. Hầu như chắc chắn là sự kiện này sẽ không mang lại điều gì quá to tát cả, nhưng nó là dấu hiệu tốt cho thấy hãng thích album của con.”

“Hiếm khi họ làm việc này cho các nghệ sĩ mới trình làng của họ,” Brooke tự hào nói. “Julian thực ra đã quá khiêm tốn – sự kiện đó hết sảy đấy ạ.”

“Ờ thì ít nhất cái đó cũng là một tin mừng,” mẹ anh tuyên bố lúc trở lại ngồi lên đi văng.

Julian mím miệng và hai bàn tay anh nắm chặt lại phía bên sườn. “Mẹ à, từ nhiều tháng nay họ đã giúp đỡ và khuyến khích quá trình hình thành album rồi. Ờ thì ban đầu những nhà điều hành cấp cao đã chủ trương tập trung giới thiệu một tay ghi ta hơn, nhưng suốt từ đó đến nay họ thật tuyệt vời. Vậy nên con không hiểu tại sao mẹ lại phải nói theo cái kiểu đó.”

Elizabeth Alter nhìn con trai và có vẻ thoáng bối rối. “Ôi, con yêu, mẹ đang nói về L’Olivier đấy chứ. Tin mừng là họ có đủ hoa thủy vu mà mẹ muốn, và nhà thiết kế mẹ thích nhất cũng rảnh để đến đây cắm hoa. Đừng có hơi tí thì động lòng thế chứ.”

Cha Brooke liếc cô với cái nhìn như muốn hỏi, Người đàn bà này là thế nào đây? Brooke nhún vai. Cũng như Julian, cô đã thừa nhận một điều rằng cha mẹ anh không bao giờ thay đổi. Chính vì vậy mà cô ủng hộ anh một trăm phần trăm khi anh từ chối lời họ đề nghị mua cho cặp vợ chồng mới cưới một căn hộ ở gần căn hộ của họ tại Khu Thượng Đông. Chính vì vậy, cô thà làm hai việc một lúc còn hơn nhận khoản “trợ cấp” mà có lần họ đã gợi ý, vì cô biết những sợi dây ràng buộc đi kèm theo nó.

Vào lúc Carmen báo rằng bữa ăn nhẹ đã sẵn sàng, Julian trở nên hoàn toàn trầm lặng và đờ đẫn – như rùa thụt vào mai, Brooke luôn gọi thái độ này của anh như thế – còn Cynthia thì có vẻ nhăn nhúm và mệt lử trong bộ vest polyester của chị. Ngay cả cha Brooke, người vẫn can đảm tìm cách tiếp tục câu chuyện chung chung (“Các vị có nghĩ là năm nay chúng ta đang trải qua một mùa đông khắc nghiệt không?” và “William, ông mê bóng chày à? Đội Yanks (8)dường như là một lựa chọn hiển nhiên, nhưng tôi biết l không nhất thiết lựa chọn đội bóng từ quê hương của họ…”) cũng chào thua. Trong những tình huống, bình thường thì Brooke lẽ ra đã cảm thấy có trách nhiệm với sự khổ tâm của mọi người – xét cho cùng, họ tập trung ở đây chỉ vì cô và Julian, phải không? – nhưng hôm nay cô mặc kệ. Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ – cô nghĩ, rồi xin phép đi vào phòng vệ sinh, dù thực ra cô chỉ lượn qua đó để vào bếp.

(8) Yanks: tên gọi tắt của đội bóng chày New York Yankees.

“Ngoài đó sao rồi, cháu yêu?” Carmen hỏi trong lúc múc mứt mơ vào chiếc bát bằng bạc ròng.

Brooke giơ cao ly Bloody Mary đã cạn của mình với vẻ van vỉ.

“Tệ thế cơ à?” Carmen cười và chỉ cho Brooke lấy chai vodka từ tủ lạnh trong lúc bà chuẩn bị nước cà chua ép và nước xốt hạt tiêu Tabasco. “Cha mẹ cháu chèo chống ra sao? Cynthia có vẻ là một phụ nữ dễ chịu thật đấy.”

“À vâng, dì ấy dễ thương ạ. Họ là những người trưởng thành rồi và tự họ chọn cái chuyến thăm viếng dở hơi này. Chính Julian mới là người cháu lo kia.”

“Chẳng có gì mà cậu ấy chưa chứng kiến cả đâu, cháu yêu. Không ai đối phó với họ giỏi hơn đâu.”

Brooke thở dài. “Cháu biết thế. Nhưng sau đó anh ấy phiền muộn lâu lắm.”

Carmen cắm một nhánh cần tây vào ly Bloody Mary rồi đưa cho Brooke. “Tăng lực,” bà tuyên bố, và hôn lên trán Brooke. “Giờ thì quay lại đằng ấy mà bảo vệ người đàn ông của cháu đi.”

Phần ăn chính không đến nỗi tệ như lúc uống cocktail. Mẹ Julian cơn cớ một chút vì món bánh cuộn phủ sô cô la (mặc dù những người khác ai cũng thích món bánh Carmen làm nhưng Elizabeth lại nghĩ rằng chúng quá thừa chất béo để mà ăn trong b chính), và bác sĩ Alter biến vào thư phòng của ông một lúc, nhưng nhờ thế mà không ai trong hai vợ chồng họ làm bẽ mặt con trai mình quá một tiếng đồng hồ. Màn chào tạm biệt may mắn không gặp trục trặc gì, nhưng lúc cô và Julian giúp cha cô và Cynthia ngồi vào taxi, cô thấy Julian trông xa vắng và buồn bã.

“Anh có sao không, anh yêu? Bố em và Cynthia quá phấn khích. Và em khó mà có thể…”

“Anh không muốn nói về chuyện ấy, được không em?”

Họ lặng lẽ đi trong ít phút.

“Này anh, mình còn rỗi nốt đến cuối ngày hôm nay. Tuyệt đối chẳng phải làm gì. Nhân tiện mình đang ở đây, anh có muốn ghé thăm một viện bảo tàng không?” Brooke vừa hỏi vừa nắm tay anh và giật nhẹ cánh tay anh trong lúc họ đi về phía ga tàu điện ngầm.

“Không, anh không muốn chen vào các đám đông trong ngày Chủ nhật.”

Cô nghĩ một lát. “Từ lâu anh vẫn thích xem phim 3D IMAX (9). Em không phiền nếu đi xem cùng anh đâu,” cô nói dối. Những lúc vô vọng lại cần những giải pháp liều lĩnh.

(9) IMAX: một dạng phim ảnh động có khả năng ghi chiếu hình với kích thước và độ phai giải lớn hơn nhiều so với các hệ phim thông thường.

“Anh không sao đâu, Brooke à. Thật là anh không sao mà,” Julian lặng lẽ nói rồi kéo chiếc khăn len quàng lên cổ. Cô biết lúc này chính anh là người nói dối.

“Em mời Nola đến buổi biểu diễn ra mắt của anh được chứ? Buổi diễn nghe có vẻ thật đình đám, anh biết đấy Nola khó mà bỏ qua bất kỳ cơ hội nào ở những chỗ đình đám.”

“Chắc là được thôi – Leo nói rằng buổi diễn sẽ có quy mô rất nhỏ, và anh đã mời Trent rồi. Đợt luân chuyển này cậu ấy chỉ còn ở New York vài tuần nữa thôi, mà từ đó đến nay cậu ấy cứ làm việc như điên vậy. Anh nghĩ cậu ấy có quyền đi chơi một tối.”

Họ nói thêm về buổi diễn ra mắt, và họ bàn xem anh sẽ mặc gì, biểu diễn những bài hát nào, và theo thứ tự ra sao. Cô mừng vì có thể gợi cho anh bộc bạch tâm sự, và lúc họ về đến nhà thì Julian hầu như đã trở lại là chính mình.

“Em đã nói với anh rằng em tự hào về anh đến mức nào chưa nhỉ?” Brooke hỏi khi họ bước vào thang máy riêng, cả hai rõ ràng đều thấy nhẹ lòng khi về đến nhà.

“Rồi,” Julian nói với một nụ cười nhẹ.

“Thế thì vào nhà đi, anh yêu,” Brooke vừa nói vừa kéo tay anh đi dọc hành lang. “Em nghĩ giờ là lúc em cho anh thấy đấy.”

3

Khiến John Mayer (1) chỉ như kẻ nghiệp dư

(1) John Mayer (1977): nhạc sĩ, ca sĩ và nhà sản xuất âm nhạc người Mỹ, giành giải Grammy cho giọng đơn ca nam hay nhất của dòng nhạc pop năm 2003 Với bài hát “Your Body is a Wonderland”.

“>húng mình đang ở đâu đây nhỉ?” Brooke vừa lẩm bẩm vừa bước ra khỏi taxi và nhìn quanh con phố nhỏ tăm tối và hoang vắng ở mạn Tây Chelsea. Đôi bốt cao màu đen kiểu lười mà cô sắm được ở một phiên giảm giá cuối mùa cứ kéo tuột tất quần của cô xuống.

“Trung tâm khu vực triển lãm (2), Brooke ạ. Đại lộ và quán 1 OAK ở ngay đằng góc phố kìa.”

(2) Khu vực triển lãm (Gallery District): phía Tây Chelsea là trung tâm thế giới nghệ thuật của thành phố New York với rất nhiều phòng trưng bày và các phòng nhạc.

“Tớ có cần biết những thứ cậu vừa nói là cái gì không?”

Nola lắc lắc đầu. “Thôi mà, chí ít thì trông cậu rất đẹp. Tối nay Julian sẽ rất tự hào vì có cô vợ nóng bỏng thế này.”

Brooke biết rằng cô bạn mình nói thế chỉ vì lòng tốt mà thôi. Chính Nola trông mới thật lộng lẫy, như thường lệ. Cô nàng đã nhồi chiếc áo vest và đôi giày cao tiện dụng vào chiếc túi LV ngoại cỡ và thay chúng bằng chuỗi dây đeo cổ nhiều vòng rất lớn cùng đôi giày gót cao chót vót Louboutin kiểu nửa bốt nửa xăng đan, kiểu giày mà chỉ có khoảng sáu phụ nữ trên đời có thể mang mà không bị nhầm lẫn với loại gái bạo dâm nhà nghề. Những thứ mà có lẽ trông sẽ rất rẻ tiền ở bất kỳ ai khác – son môi đỏ chót, tất lưới màu da và áo nịt ngực ren đen nhìn rõ mồn một bên trong chiếc áo hai dây trong veo của cô – thì Nola lại khiến chúng có vẻ vừa táo bạo vừa nghịch ngợm. Chiếc jupe dáng bút chì, vốn là một nửa của bộ vest đắt tiền khá phù hợp với môi trường làm việc bảo thủ nhất phố Wall, lúc này lại phô cặp mông săn chắc và đôi chân hoàn hảo của cô. Nếu đó là bất kỳ một người phụ nữ nào khác chứ không phải Nola thì Brooke hẳn sẽ ghét cay ghét đắng.

Brooke nhìn vào chiếc điện thoại BlackBerry của mình. “Giữa phố 10 và phố 11. Chính xác là nơi chúng mình đang đứng đấy chứ? Chỗ này là đâu ấy nhỉ?” Cô thoáng thấy một cái bóng lao vụt ra liền la toá

“Ồ, bình tĩnh nào Brooke. Nó còn sợ cậu hơn là cậu sợ nó đấy.” Nola xua vụ nhìn thấy chuột đi bằng bàn tay diện chiếc nhẫn cocktail.

Brooke vội vàng băng qua đường khi nhận ra rằng địa chỉ số chẵn mà họ muốn đến nằm ở phía đối diện. “Cậu nói thì dễ rồi. Cậu có thể đâm thủng tim nó bằng một cú giậm cái đế giày cao gót đó. Đôi bốt trệt bè bè này đẩy tớ vào tình thế có nguy cơ cao hơn.”

Nola cười to và điệu đà chạy sau Brooke. “Kia rồi, tớ nghĩ nó đấy,” cô vừa nói vừa chỉ tay về phía tòa nhà duy nhất trong dãy không có vẻ xập xệ.

Các cô theo cầu thang bộ hẹp từ vỉa hè dẫn xuống cánh cửa một tầng hầm không có cửa sổ. Julian đã giải thích rằng những cuộc biểu diễn ra mắt kiểu đó thường xuyên di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác, và những người trong ngành âm nhạc luôn tìm chỗ có phong cách thời trang tiếp theo để tạo cảm giác phấn chấn, nhưng dẫu vậy, trước nay cô vẫn hình dung ra một chỗ giống như phiên bản thu nhỏ của qụán bar Joe. Còn cái này là gì? Không có những người hâm mộ xếp hàng từ vỉa hè. Không có bảng quảng cáo tên nghệ sĩ tài năng biểu diễn đêm nay trương trên cửa vào. Cũng không có cả cô gái cau có như thông lệ với tấm bìa kẹp giấy tờ, gắt gỏng yêu cầu mọi người đứng lùi lại chờ đến lượt.

Brooke cảm thấy nỗi lo như một làn sóng nhỏ cồn lên tận đến lúc cô kéo cánh cửa giống như cửa hầm mộ ra, bước vào bên trong, rồi được bao bọc trong bóng tối mờ mờ ấm áp với những tiếng cười khẽ và mùi hương phảng phất nhưng không lẫn vào đâu được của cần sa. Toàn bộ không gian cỡ chỉ bằng một phòng khách rộng, và tất cả mọi thứ – từ những bức tường, những chiếc đi văng, cho đến cả những tấm ốp trên quầy bar nhỏ trong góc – đều được bọc vải nhung lông màu boóc đô. Một chiếc đèn đơn độc trên cây dương cầm tỏa ánh sáng dịu mờ xuống chiếc ghế chưa có người ngồi. Hàng trăm cây nến nhỏ được khuếch đại ánh sáng trên những mặt bàn và trần nhà ốp gương, chẳng hiểu sao khung cảnh này lại thành ra quá sức gợi cảm mà thậm chí không khơi lên một chút gì của thập kỷ tám

Chương 6

Đám đông trông như thể bị bứng ra khỏi bữa tiệc cocktail bên bể bơi ở Santa Barbara (3)mà thả vào thành phố New York vậy. Bốn năm chục người hầu hết là nam thanh nữ tú thơ thẩn loanh quanh, nhấp nháp từng hớp rượu từ những chiếc ly tròn thấp và nhả khói thuốc lá thành những chùm hơi dài uể oải. Hầu hết đàn ông đều vận quần jean, còn số ít vẫn mặc những bộ com lê ban ngày thì đã cởi bỏ cà vạt và nới cúc áo phía trên ra. Hầu như không có phụ nữ nào đi giày gót nhọn hay vận những chiếc đầm cocktail đen bó ngắn đã làm nên đồng phục của Manhattan; thay vào đó họ đi lại thoải mái trong những chiếc áo hoa văn dáng dài, đeo hoa tai hạt đá leng keng và mặc quần jean ôm khít đẹp đến nỗi Brooke những muốn cởi phắt chiếc đầm dệt kim màu đen bó sát người ngay tại chỗ. Một số người đeo những dải băng kiểu hippi ngang trán và mái tóc đẹp của họ thả dài đến ngang lưng. Chẳng ai có vẻ gì là e dè ngượng ngập hay căng thẳng cả – thêm một nét nữa không phải chất Manhattan – tất cả những cái đó hiển nhiên làm Brooke lo ngại gấp đôi. Thế này còn khuya mới giống những khán giả thường ngày của Julian. Những người này là ai vậy và tại sao mỗi người bọn họ, tất cả bọn họ, đều có vẻ sành điệu hơn cô cả ngàn lần thế?

(3) Santa Barbara: một hạt của thành phố California, điểm đến du lịch nổi tiếng.

“Lấy hơi đi,” Nola nói thầm vào tai cô.

“Tớ mà còn hồi hộp thế này thì không thể tưởng tượng được Julian cảm thấy thế nào nữa.”

“Đi thôi, hãy kiếm đồ uống cho bọn mình đã,” Nola hất mái tóc vàng qua vai và chìa một tay cho Brooke, nhưng trước khi họ băng qua đám đông Brooke đã nghe thấy một giọng quen quen.

“Đỏ, trắng, hay loại mạnh hơn?” Trent vừa hỏi vừa xuất hiện một cách thần bí bên cạnh họ. Anh là người duy nhất mặc com lê ở đó và trông có vẻ không được thoải mái lắm. Chắc hẳn sau nhiều tuần thì đây là lần đầu tiên anh ra khỏi bệnh viện.

“Này đằng ấy ơi!” Brooke vừa nói vừa vòng tay ôm cổ anh. “Anh còn nhớ Nola đấy chứ?”

Trent nhoẻn cười. “Tất nhiên là tôi còn nhớ.” Anh quay về phía Nola và hôn lên má cô. Trong giọng điệu của anh có chút gì như ngụ ý Tất nhiên tôi nhớ là tôi đã gặp cô, vì tối hôm đó ngẫu nhiên cô đã về nhà với bạn tôi và cậu ấy rất ấn tượng cả vì sự sốt sắng lẫn tính sáng tạo của cô trong phòng ngủ. Nhưng Trent là người quá dè dặt để có thể đùa cợt về chuyện ấy, thậm chí là sau chừng ấy năm vẫn vậy.

Còn Nola thì không thế. “Thế Liam ra sao rồi? Chúa ơi, anh chàng ấy vui đấy,” nói rồi cô cười toe toét. “Ờ, cực vui ấy chứ.”

Trent và Nola trao đổi một cái nhìn đầy ngụ ý và bật cười.

Brooke giơ tay lên. “Vậy thì tốt rồi. Trent này, chúc mừng lễ đính hôn nhé. Khi nào thì chúng tôi được gặp cô ấy đây?” Cô không đủ can đảm gọi tên Fern vì không tin mình sẽ nói cái tên ấy mà không phá lên cười. Tên với tuổi gì mà lại là Fern (4) cơ chứ.

(4) Fern: cây dương xỉ.

“Xét tình hình là chúng tôi hầu như không bao giờ có mặt tại bệnh viện cùng một lúc, có lẽ sẽ phải chờ đến tận đám cưới.”

Nhân viên phục vụ quầy bar tiến đến chỗ Trent, lúc này anh đang quay mặt về phía hai cô gái.

“Xin cho loại đỏ,” hai cô đồng thanh nói, và cả ba quan sát người phục vụ rót rượu từ chai vang cabernet California. Trent chuyển cho mỗi cô một ly và tợp hai hơi chớp nhoáng là cạn ngay ly của mình

Với vẻ mặt bẽn lẽn, anh quay về phía Brooke, “Tôi không mấy khi ra ngoài.”

Nola cáo lỗi đi một vòng quanh phòng.

Brooke mỉm cười với Trent. “Nào, hãy kể về cô ấy cho tôi đi. Đám cưới sẽ tổ chức ở đâu thế?”

“À, Fern quê ở Tennessee và gia đình cô ấy rất đông, vì vậy chắc chúng tôi sẽ tổ chức hôn lễ ở chỗ cha mẹ cô ấy. Vào tháng Hai tới, tôi nghĩ thế.”

“Chà, tiến triển tốt đây. Hay quá, tin này thật tuyệt.”

“Ừ thì, cách duy nhất để chúng tôi có thể ở cùng một nơi với nhau là cưới nhau mà.”

“Thế cả hai bạn định sẽ tiếp tục chuyên khoa tiêu hóa đấy chứ?”

“Ừ, dự định là thế. Tôi quan tâm đến lĩnh vực thí nghiệm và nội soi hơn – ngày nay họ đang tạo ra những thứ công nghệ cao đến mức khó tin – nhưng Fern học chuyên khoa người thiên về bệnh viêm ruột và ổ bụng.” Trent ngừng một lát và có vẻ đang suy ngẫm về điều đó trước khi nở một nụ cười tươi. “Cô ấy tuyệt lắm. Tôi nghĩ thể nào cô cũng thích cô ấy.”

“Này cậu!” Julian vừa chào vừa vỗ vào lưng Trent. “Tất nhiên chúng tôi sẽ thích cô ấy chứ. Cô ấy sẽ là vợ cậu mà. Kỳ cục làm sao?” Julian nghiêng người sang hôn lên môi Brooke. Môi anh có vị ngon lành như sô cô la bạc hà, và chỉ cần nhìn anh là cô thấy an tâm rồi.

Trent cười lớn. “Còn chưa kỳ cục bằng việc anh họ của tôi vốn rất lùn về mặt xã giao mà cũng lấy vợ được năm nămtrời rồi cơ đấy, nhưng duyên s

Ba người vừa mới cụng ly – Julian chỉ dùng nước – và đang sắp sửa đào xới chủ đề toàn diện về Fern thì một trong những gã bảnh trai nhất mà Brooke từng nhìn thấy đột ngột xuất hiện bên cạnh cô. Gã cao hơn cô phải đến mười lăm phân là ít, và chiều cao này làm Brooke lập tức cảm thấy mình yếu ớt và nhỏ bé một cách rất nữ tính. Cô đã ước ao vô vàn lần rằng Julian có được chiều cao như người đàn ông bí ẩn này nhưng rồi phải gạt ý nghĩ ấy ra khỏi đầu cô; Julian hẳn cũng mong ước Brooke có thân hình đẹp như Nola, vậy cô còn đòi hỏi cái nỗi gì? Gã đó quàng một tay qua lưng cô và siết chặt vai trái của cô, sát đến nỗi cô có thể ngửi thấy mùi nước hoa của gã. Nam tính, tinh tế, và đắt tiền. Brooke đỏ mặt.

“Hẳn cô là bà xã của anh ấy rồi,” gã vừa nói vừa cúi xuống hôn lên trán cô, một cử chỉ vừa thân mật lại vừa xã giao một cách lạ lùng. Giọng gã không sâu như Brooke những tưởng một người có chiều cao và rõ là sung mãn như gã ắt phải có.

“Leo, tôi muốn giới thiệu Brooke với anh,” Julian nói. “Brooke, đây là Leo, nhà quản lý mới.”

Đúng lúc đó một cô gái người châu Á bước qua, Brooke và Julian quan sát Leo nháy mắt với cô ta. Nola ở chỗ quái nào không biết? Cô phải nhanh chóng và thường xuyên cảnh báo cho Nola rằng Leo là “hiện vật cấm sờ” mới được. Sẽ chẳng dễ dàng gì – Leo chính xác là típ người cô nàng thích. Chiếc sơ mi màu hồng của gã mở thêm một cúc so với hầu hết những người đàn ông khác dám mở, nó làm nổi bật nước da rám nắng đẹp đẽ – sẫm màu vừa phải mà không có dấu vết tắm nắng nhân tạo hoặc dùng bình xịt. Gã vận quần âu ống côn cạp trễ. Ăn mặc như thế thì lẽ ra mái tóc của gã phải được chải mượt gọn về đằng sau bằng loại gôm keo đặc, nhưng gã khéo léo để những lọn tóc sẫm màu của mình bồng bềnh ngay phía trên cặp mắt. Khiếm khuyết duy nhất mà cô soi ra được chỉ là một vết sẹo cắt ngang phía lông mày bên phải làm thành một đường phân cách sói bóng, nhưng thực tế lại là lợi thế cho gã, nó xóa đi bất kỳ dấu vết nào của sự chải chuốt hoặc sự hoàn hảo đầy nữ tính. Toàn bộ cơ thể gã chẳng có lấy một gam mỡ thừa.

“Hân hạnh được gặp anh, Leo.” Brooke nói. “Tôi đã được nghe rất nhiều về anh.”

Gã chẳng tỏ vẻ gì là nghe thấy cô nói. “Được rồi, nghe này,” gã quay qua nói với Julian. “Người ta vừa nói với tôi là anh được sắp xếp biểu diễn tiết mục cuối. Một người vừa diễn xong rồi, còn một nữa, rồi đến anh.” Leo chăm chăm nhìn qua vai Julian trong lúc gã nói.

“Đó có phải là tin tốt không?” Brooke lịch sự hỏi. Julian từng nói với cô rằng tất cả các ca sĩ khác được đưa vào chương trình biểu diễn tối đó đều chưa từng tham gia vào bất kỳ cuộc thi tài thực sự nào cả. Một là nhóm nhạc R&B mà ai cũng nghĩ rằng hát giống Boyz II Men đương thời, và người nữa là một nữ ca sĩ đồng quê xăm trổ đầy mình mặc những chiếc đầm ren rườm rà và tết tóc bím.

Cô nhìn sang Leo và một lần nữa lại thấy cái nhìn của gã mông lung tận đâu đâu. Brooke dõi theo hướng đó và thấy gã đang nhìn chằm chặp vào chính Nola. Hoặc, nói đúng hơn là, chằm chặp vào cặp mông dưới chiếc jupe bó căng của Nola. Cô ghi nhớ trong đầu phải cảnh báo Nola nguy cơ bị tẩy chay hoặc còn tệ hại hơn nếu cô nàng lại gần gã ở bất kỳ đâu.

Leo hắng giọng rồi làm một ngụm whisky. “Em kia đã xong rồi, mà em cũng được lắm. Không phải loại làm người ta thích cuồng lên, nhưng gây hứng thú một cách êm dịu. Tôi cho rằng…”

Gã bị những giọng hợp xướng cắt ngang nửa chừng. Thực ra không có sân khấu hẳn hoi, nhưng có một khoảng trống trước chiếc dương cầm, nơi bốn chàng Mỹ gốc Phi trạc ngoài hai mươi đang đứng, mỗi người đều hướng vào chiếc micro ở giữa. Trong giây lát nghe như dàn hợp xướng a capella rất hay của sinh viên đại học, nhưng sau đó ba chàng trai trẻ lùi xuống phía sau để lại ca sĩ chính một mình ngân nga hát về tuổi thơ của anh ta ở Haiti. Đám đông gật đầu và đung đưa tán thưởng.

“Này, em yêu.” Julian đi vòng qua nhóm đến sau lưng cô. Anh hôn vào gáy cô và cô suýt nữa thì rên lên thành tiếng. Anh đã mặc trang phục diễn, không thay đổi thậm chí là sau ngần ấy năm: áo phông cộc tay màu trắng, quần Levi’s và một chiếc mũ len đan. Bộ trang phục không thể nào đời thường hơn được nữa, nhưng đối với Brooke nó biểu hiện cho sự gợi cảm hết mức. Chiếc mũ là dấu ấn của Julian, vật mà anh mang gần với nghĩa “tạo phong cách” nhất, nhưng chỉ duy Brooke mớó có ý nghĩa nhiều hơn thế. Mới năm ngoái đây Julian rầu rĩ khi phát hiện ra một đốm hói nhỏ xíu xiu trong quá trình rụng tóc. Brooke cố gắng trấn an anh rằng đốm hói đó khó lòng nhận thấy, nhưng Julian chẳng muốn nghe chút nào cả. Mà nói thật ra thì, có lẽ nó đã loang rộng hơn một chút so với lần đầu tiên anh phát hiện ra, mặc dù cô không muốn thừa nhận điều đó.

Không ai nhìn thấy những lọn tóc quăn sẫm màu gợi cảm thò ra dưới chiếc mũ lại có thể đoán rằng Julian đang cố gắng che giấu điều gì bên dưới đó cả, và đối với Brooke thì nó chỉ tăng thêm sức hấp dẫn của Julian, làm cho anh có vẻ dễ xúc cảm và con người hơn. Cô thầm thích thú khi cô là người duy nhất nhìn thấy Julian lúc anh không đội mũ, khi ở nhà anh yên tâm cởi mũ ra, lúc lắc những lọn tóc xoăn của anh với riêng cô mà thôi. Vài năm trước nếu có ai bảo Brooke rằng cô sẽ thấy cái chứng hói đầu ngày càng tăng của anh chồng ba mươi hai tuổi là một trong những nét hấp dẫn nhất của anh thì chắc cô phải phá lên cười vì không thể tin được điều đó, nhưng đó chính là điều đã xảy ra.

“Anh thấy thế nào? Anh có hồi hộp không?” Brooke hỏi và tìm kiếm trên mặt anh một dấu hiệu cho thấy mức tự tin của anh. Anh đã suy sụp suốt cả tuần – hầu như không ăn, hoàn toàn không ngủ, thậm chí chiều hôm đó anh còn nôn mửa nữa – nhưng khi Brooke cố gắng chuyện trò với anh về điều đó thì anh rụt đầu vào mai rùa. Cô muốn đi cùng anh đến nơi biểu diễn tối hôm đó, nhưng Julian khăng khăng bảo cô đi với Nola. Anh nói anh cần bàn với Leo một số chuyện, phải đến đó sớm, đảm bảo rằng mọi thứ được chuẩn bị đầy đủ. Hẳn phải có điều gì đó tác động tốt, bởi vì trông anh đã thư thái hơn một chút.

“Anh sẵn sàng rồi,” anh vừa nói vừa gật đầu cả quyết. “Anh cảm thấy thoải mái.”

Brooke hôn lên má anh, cô biết rằng anh đang vô cùng căng thẳng nhưng cô tự hào vì anh đã trụ được. “Trông anh tuyệt lắm. Có vẻ như anh đã sẵn sàng rồi. Tối nay thế nào anh cũng sẽ tỏa sáng.”

“Em nghĩ thế thật chứ?” Anh uống một ngụm soda, và Brooke nhận thấy các đốt ngón tay anh trắng bệch. Cô biết anh thèm một thứ gì mạnh hơn thế đến chết lên được, nhưng anh không bao giờ uống bia rượu trước giờ biểu diễn

“Em biết thế. Khi anh ngồi cạnh đàn dương cầm, tất cả những gì anh nghĩ đến là âm nhạc. Tối nay đâu có khác gì những tối anh diễn ở quán bar Nick. Khán giả luôn luôn yêu thích anh, anh yêu ạ. Anh hãy nhớ điều đó. Hãy cứ là chính mình, rồi cả ở đây nữa họ cũng sẽ yêu thích anh cho xem.”

“Hãy nghe lời bà xã cậu,” Leo nói, gã vừa quay trở lại sau khi tán gẫu vài câu với đám người phía sau. “Hãy quên rằng cậu đang ở đâu và tại sao cậu đến đây, cứ làm việc của mình thôi. Hiểu chứ?”

Julian gật đầu và nôn nóng giậm giậm chân. “Rõ rồi.”

Leo ra hiệu về khu vực hậu phòng. “Hãy chuẩn bị chỉnh trang cho cậu nào.”

Brooke nhón chân hôn lên môi Julian. Cô siết tay anh và nói, “Em sẽ ở đúng chỗ này suốt thời gian biểu diễn, nhưng anh hãy quên tất cả bọn em đi. Cứ nhắm mắt lại và chơi cho hết mình anh nhé.”

Anh hướng cái nhìn đầy vẻ biết ơn về phía cô nhưng không thể thốt lên lời nào. Leo dẫn anh đi, và cô chưa kịp uống hết ly rượu thì một người ở Ban Phát triển Tài năng đã xướng tên Julian trên micro.

Brooke lại nhìn quanh tìm Nola và thấy cô đang chuyện trò với một nhóm người đằng trước quầy bar. Cô nàng biết tất cả mọi người. Mừng vì có Trent bên cạnh, Brooke để mặc anh dẫn cô đến một băng ghế nhỏ trong bộ đi văng góc nơi anh ra dấu cho cô ngồi xuống. Cô ghé ngồi xuống một đầu đi văng bọc nhung và bồn chồn túm tóc lại. Cô lục trong túi tìm dây buộc tóc nhưng không thấy.

“Đây,” cô gái châu Á xinh đẹp mà Leo nháy mắt lúc trước nói. Cô ta kéo một sợi dây thun nâu ra khỏi cổ tay đưa cho Brooke. “Tôi còn cả triệu cái.”

Brooke ngập ngừng giây lát, không biết phải làm gì, và cô gái nhoẻn cười. “Thật mà, có gì đâu. Chẳng gì khó chịu hơn là vén tóc cho khỏi xòa xuống mặt mình. Mặc dù, nếu tôi có mái tóc như chị thì tôi chẳng bao giờ buộc túm lại.”

“Cảm ơn cô,” Brooke nói rồi nhận lấy sợi thun và lập tức buộc túm tóc thành kiểu đuôi ngựa. Cô vừa định nói thêm, có thể là câu gì đó tự hạ thấp mình kiểu như cô sẽ không chúc ai có một mái tóc đỏ như mình đâu, thì đúng lúc đó Julian ngồi xuống bên chiếc đàn dương cầm, và cô nghe tiếng anh nói, hơi run một chút, cảm ơn mọi người đã đến.

Cô gái uống một hớp từ chai bia đang cầm và hỏi, “Trước đây chị đã bao giờ nghe anh ấy hát chưa?”

Brooke chỉ biết gật đầu và cầu mong cô gái đó ngưng nói. Cô không muốn bỏ lỡ một giây nào, vả lại đầu óc cô còn đang bận băn khoăn không biết có ai khác nhận thấy thoáng run run trong giọng Julian không.

“Vì nếu chưa thì đảm bảo chị sắp phải ngạc nhiên đấy. Anh ấy là ca sĩ gợi cảm nhất mà tôi từng thấy.”

Câu đó thu hút sự chú ý của cô. “Sao cơ?” cô quay lại phía cô gái, hỏi.

“Julian Alter ấy,” cô gái vừa nói vừa vẫy tay về phía chiếc dương cầm. “Tôi đã vài lần nghe anh ấy hát ở những địa điểm khác nhau trong thành phố. Anh ấy có vài sô diễn thường xuyên. Và tôi cam đoan với chị điều này, anh ấy hát hay đến lạ lùng. Làm John Mayer chỉ như kẻ nghiệp dư.”

Julian bắt đầu chơi bản “For the Lost” (Cho người đã khuất), một bài hát đầy xúc cảm về một cậu bé mất anh, và cô cảm thấy Trent liếc nhìn về hướng cô – trong gian phòng này, ngoài cô ra ắt hẳn anh là người duy nhất biết điều gì thực sự thôi thúc Julian sáng tác bài đó. Julian hiện là đứa con duy nhất, nhưng Brooke biết anh thường nghĩ đến người anh trai đã chết vì SIDS(4) trước khi Julian được sinh ra. Tận đến bây giờ, gia đình Alter vẫn chưa bao giờ đề cập đến James, nhưng Julian đã trải qua một thời kỳ băn khoăn, đôi lúc đến mức ám ảnh, rằng nếu còn sống thì lúc này James sẽ là người như thế nào, và cuộc đời anh lẽ ra đến mức nào nếu có một người anh trai.

(4) SIDS (Sudden infant death syndrome): hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh.

Đôi tay anh lướt trên những phím dương cầm, tạo ra những nốt âm vang đầu tiên sẽ tiến triển thành một cao trào mạnh mẽ, nhưng Brooke không thể tập trung vào bất kỳ điều gì ngoài cô gái bên cạnh mình. Cô vừa muốn ôm lấy lại vừa muốn bạt tai cô ta. Cô thấy lo lắng khi nghe cô gái quá đỗi quyến rũ này say sưa nói về sự gợi cảm của Julian – dù họ đã chung sống với nhau bao lâu nay nhưng cô vẫn chưa thể quen với khía cạnh ấy – nhưng cũng hiếm khi được nghe một quan điểm hoàn toàn thành thực và nguyên sơ như thế.

“Cô nghĩ thế à?” Brooke hỏi lại, đột nhiên cô mong tha mong thiết rằng cô gái kia sẽ đồng ý.

“Ồ, chắc chắn là thế rồi. Tôi đã cố bảo sếp tôi, hàng chục lần ấy chứ, nhưng Sony vớ được anh ấy trước.” Sự chú ý của cô gái đối với Brooke bắt đầu giảm dần khi giọng của Julian vang cao, và lúc anh nghiêng nghiêng đầu hất lên đoạn điệp khúc tình cảm và da diết buồn thương thì cô gái dán chặt mắt vào anh mà không để ý đến ai khác. Brooke tự hỏi trong làn sương mù mịt của sự tôn thờ đó cô ta có nhận thấy chiếc nhẫn cưới trên tay Julian không.

Brooke quay lại xem và cô hết sức kiềm chế để khỏi hát theo. Cô thuộc từng lời trong bài hát.

Nghe đồn Texas miền đất hứa

Ta lớn lên từụi đường

Tay sứt sẹo và trái tim rạn vỡ

Tuyệt mù vô vọng chẳng tình thương.

Anh là giấc mơ của mẹ, cát bụi lại về cát bụi thôi

Ôi anh trai em, thời gian cuốn anh trôi khuất xa vời

Như hai đường thẳng song song không bao giờ gặp

Hát cho người đã khuất, cho người đã khuất.

Người mẹ ngoi trong căn phòng, đơn độc

Đơn độc trong ngôi nhà như bia mộ lặng câm

Trên vương miện, người cha kiểm từng viên ngọc

Nỗi đau mất mát được đong đếm bằng tiền bạc.

Anh là giấc mơ củha, cát bụi lại về cát bụi thôi

Ơi anh trai em, thời gian cuốn anh trôi khuất xa vời

Như hai đường thẳng song song không bao giờ gặp

Hát cho người đã khuất, cho người đã khuất.

Trong giấc mơ em, những tiếng vọng từ sau cánh cửa

Chúng bảo em: anh sẽ chẳng trở về

Anh sẽ không tin: trái tim em sao câm lặng thế

Chất chứa u hoài xen lẫn niềm tủi hổ.

Anh là giấc mơ của đứa em trai, cát bụi lại về cát bụi thôi

Ơi anh trai em, thời gian cuốn anh trôi khuất xa vời

Như hai đường thẳng song song>

Hát cho người đã khuất, cho người đã khuất.

Anh kết thúc bài hát trong tiếng vỗ tay vang dội – những tràng vỗ tay chân thực và nhiệt thành – và chuyển sang bài hát thứ hai một cách tự nhiên. Anh đã vào guồng, và không còn một dấu vết nào của sự lo lắng nữa. Chỉ có ánh mồ hôi quen thuộc lấp lánh ở hai cánh tay anh và nếp nhăn hằn trên trán vì tập trung cao độ trong lúc cất lên những lời ca mà anh đã bỏ ra nhiều tháng ròng, có khi là nhiều năm ròng, để trau chuốt. Bài hát thứ hai loáng một cái đã hết, rồi đến bài thứ ba, và trước khi cô kịp nhận thấy điều gì đang xảy ra thì đám đông đã hoan hô cuồng nhiệt và đòi hát lại. Julian trông sung sướng và hơi bối rối – anh hẳn đã nhận được chỉ thị hát ba bài với thời lượng dưới mười hai phút – nhưng rồi có lẽ anh đã được ai đó ở hậu trường bật đèn xanh, vì anh đang mỉm cười, gật đầu và nhẹ nhàng chuyển nhịp sang một trong những bài hát vui tươi hơn. Đám đông rộ lên tán thưởng.

Lúc anh đẩy chiếc ghế ngồi chơi đàn ra sau và nhã nhặn cúi chào, không khí trong phòng đã thay đổi hẳn. Vượt lên trên tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay và huýt sáo vang dội là cái cảm giác kích thích vì được tham dự vào một điều gì đó thật lớn lao. Bị vây quanh tứ phía bởi những người hâm mộ chồng cô, Brooke đứng lên khi Leo tiến lại gần. Gã gọi tên cộc lốc để chào cô gái cho dây buộc tóc – Umi – nhưng cô này lập tức trợn mắt lên và bỏ đi. Trước khi Brooke kịp hiểu ra, Leo nắm lấy tay cô hơi quá chặt và nghiêng sát lại gần đến nỗi trong một giây ngắn ngủi cô đã ngờ rằng gã sắp hôn cô.

“Chuẩn bị sẵn sàng nhé, Brooke. Hãy chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc đua cực kỳ náo nhiệt đi. Tối nay mới chỉ là khởi điểm thôi, rồi sau đó sẽ là cuồng loạn.”

4

Nâng cốc chúc mừng những cô nàng tóc đỏ nồng nàn

“Kaylie yêu quý, cô biết nói gì hơn nữa: Em không cầnphải giảm cân đâu. Hãy xem những chỉ số được ghi lại của em kìa; hãy nhìn vào biểu đồ này. Em hoàn hảo tuyệt đối ở thể trạng hiện thời của em đấy.”

“Ở đây chả có ai trông như em cả,” Kaylie nói, mắt cụp xuống. Cô bé lơ đãng quấn mớ tóc nâu mềm oặt quanh ngón trỏ, tỉ mẩn cuộn vào rồi xoắn, cuộn vào rồi xoắn. Mặt cô đầy vẻ lo âu.

“Em nói cái gì thế?” Brooke hỏi, mặc dù cô hiểu điều Kaylie muốn nói.

“Em chỉ… em chưa bao giờ cảm thấy mình béo trước khi đến trường này. Ở trường công thì em hoàn toàn bình thường, thậm chí có thể còn vào loại gầy nữa ấy chứ! Thế rồi đến năm học này, họ đưa em vào cái chốn kỳ cục này vì nó được coi là nơi đặc biệt và đáng mơ ước, và đột nhiên em bị coi là béo phì.” Giọng cô bé vỡ ra ở những lời cuối, và Brooke phải cố nén lòng để không ôm lấy em.

“Ôi, em yêu quý, đâu phải thế. Lại đây, nhìn vào biểu đồ này đi. Cao một mét năm lăm mà nặng năm mươi bảy cân là đẹp ở mức khỏe mạnh.” Brooke chìa tấm biểu đồ cho thấy cả loạt những chỉ số cân nặng ở mức bình thường, nhưng Kaylie chẳng buồn liếc nhìn.

Cô biết biểu đồ đó chẳng phải là thứ đặc biệt an ủi gì nếu nhìn vào tất cả những cô gái gầy đến mức kinh dị ở lớp chín của Kaylie. Kaylie là một học sinh được học bổng từ khu Bronx tới, cô bé là con gái một người thợ sửa chữa điều hòa đã phải gà trống nuôi con sau khi mẹ cô bé mất trong một tai nạn ô tô. Hiển nhiên cha cô đã làm điều đúng đắn, nếu xét về bảng điểm toàn những điểm A của cô bé ở cấp hai, thành tích trong đội tuyển khúc côn cầu, và theo như những gì Brooke nghe được từ các giáo viên khác, khả năng chơi vĩ cầm của cô bé vượt xa bạn bè cùng trang lứa, thế nhưng, khi cô con gái đáng yêu và tài năng của ông đến đây, tất cả những gì cô bé thấy ra là cô không thích hợp với nơi này.

Kaylie kéo mạnh gấu chiếc jupe kẻ ca rô phủ lên cặp đùi săn chắc không có chỗ nào gọi là béo được và nói, “Chắc là vì em có gien xấu. Mẹ em thực ra cũng là người béo phì.”

“Em có nhớ mẹ không?” Brooke hỏi, và Kaylie chỉ có thể gật đầu, lệ đã dâng đầy trong mắt em.

“Mẹ luôn nói với em rằng em cứ như thế này là hoàn hảo lắm rồi, nhưng chẳng hiểu nếu mẹ nhìn thấy các bạn gái ở đây thì liệu mẹ có nói thế không. Họ mới thật hoàn hảo. Kiểu tóc họ hoàn hảo, cách trang điểm cũng như vóc dáng họ hoàn hảo, và mặc dù chúng em mặc đồng phục y như nhau nhưng thậm chí cả cái cách họ vận đồng phục cũng hoàn hảo nốt.”

Sự giao thoa giữa bác sĩ dinh dưỡng và người bạn tâm giao này là một khía cạnh của công việc mà cô ít ngờ tới nhất, nhưng cô ngày càng trân trọng điều đó, nhiều hơn những gì cô có thể bộc lộ. Ở cao học, họ được học rằng bất kỳ ai có mối liên hệ thường xuyên với lứa tuổi thanh thiêu niên và chỉ cần vui lòng lắng nghe tâm sự đều có thể đóng một vai trò quan trọng như một người lớn đầy quan tâm chu đáo, nhưng tận đến khi bắt đầu làm việc ở Huntley, Brooke mới hiểu ra điều đó có ý nghĩa gì.

Brooke dành thêm ít phút giải thích cho cô bé rằng dù em không cho là như thế thì em vẫn là một cô gái chuẩn trong giới hạn cân nặng có lợi cho sức khỏe. Đó là một cuộc tranh luận không dễ dàng, đặc biệt nếu xét đến khía cạnh thân thể cơ bắp giống như vận động viên của cô bé to con hơn hầu hết những bạn cùng lớp em, nhưng cô vẫn cố gắng. Giá như mình có thể đẩy cô bé qua nhanh bốn năm cấp ba và đưa em vào thẳng đại học, Brooke nghĩ. Lúc đó em sẽ thấy rằng những chuyện vớ vẩn của học sinh lớp chín này rốt cuộc đâu có nhằm nhò gì.

Nhưng từ kinh nghiệm của mình Brooke biết điều này là không thể. Cô cũng đã từng ngượng ngùng khi mình cũng vào diện béo hơn bình thường suốt thời trung học phổ thông và Đại học Cornell, cho đến tận cao học khi cô bắt đầu ăn kiêng triệt để và giảm được gần chín cân. Cô không thể giữ được và lại lên thêm bảy cân gần như ngay sau đó. Giờ đây, cách ăn uống lành mạnh và chương trình chạy thể dục hết mình, Brooke vẫn sắp vượt quá giới hạn cân nặng có lợi cho sức khỏe so với chiều cao của cô và, cũng như Kaylie, cô nhận thức sâu sắc được sự thật này. Thậm chí cô cảm thấy đạo đức giả khi cố khuyên Kaylie đừng lo lắng khi bản thân cô vẫn lăn tăn về điều đó mỗi ngày.

“Em thật hoàn hảo, Kaylie ạ. Cô biết không phải lúc nào ta cũng cảm thấy như thế, đặc biệt là khi xung quanh ta toàn những cô gái có quá nhiều lợi thế nhưng hãy tin cô khi cô nói với em rằng em rất xinh đẹp. Ở đây em sẽ có bạn bè, sẽ tìm thấy những bạn gái tâm đầu ý hợp, và sẽ cảm thấy thoải mái như đang ở nhà vậy. Và rồi khi em còn chưa kịp nhận ra thì em đã hôn tạm biệt kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và đêm vũ hội tốt nghiệp và một cậu bạn trai ngớ ngẩn ở trường Dalton, và em rời bỏ nơi này đến một trường đại học rất đỉnh, nơi tất cả mọi người đều hoàn hảo theo cáchriêng của họ, theo đúng cái cách mà họ lựa chọn. Và em sẽ rất thích điều đó cho xem. Cô thực lòng đoán chắc với em điều ấy đấy.”

Full | Lùi trang 1 | Tiếp trang 3

Loading...

Vinhomes Cầu Rào 2

Tiểu thuyết tình yêu là website chia sẻ những thể loại truyện hay nhất hiện nay, được nhiều người đọc yêu thích. Truyện được cập nhập hàng ngày. Hãy lưu địa chỉ web để truy cập nhanh hơn!

Chúc các bạn online vui vẻ !

Trang Chủ

The Soda Pop